QUYẾT ĐỊNH SỐ 25/2008/DS-GĐT NGÀY 07-10-2008 VỀ VỤ ÁN “CHIA QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI LY HÔN”

QUYẾT ĐỊNH SỐ 25/2008/DS-GĐT NGÀY 07-10-2008 VỀ VỤ ÁN “CHIA QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI LY HÔN

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Ngày 07 tháng 10 năm 2008, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự chia quyền sử dụng đất khi ly hôn giữa:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Huy Kiểm sinh năm 1966; trú tại thôn Đản Mỗ, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội;

Bị đơn: Chị Trần Thị Hanh sinh năm 1964; trú tại thôn Đản Mỗ, xã Uy Nỗ,, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Nguyên sinh năm 1923; trú tại thôn Đản Mỗ, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

NHẬN THẤY:

Tại đơn xin ly hôn (có xác nhận của chính quyền địa phogw ngày 25-6-2003) và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là anh Nguyễn Huy Kiểm trình bày:

Anh và chị Trần Thị Hanh kết hôn năm 1989; có 1 con chung là Nguyễn Thị Phương (sinh năm 1989, nhưng cháu đã chết năm 2003). Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh có nhiều mâu thuẫn, tình cảm không còn; do đó, anh xin ly hôn chị Hạnh.

Về tài sản: sau khi anh và chị Hanh kết hôn, ông Nguyễn Huy Đồng, bà Nguyễn Thị Nguyên (cha mẹ anh) cho vợ chồng anh ra ở riêng tại ba gian cấp 4 trên diện tích 232m2 đất thổ cư tại thôn Đản Mỗ, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội; nguồn gốc đất này là của bố mẹ anh và mẹ anh đã đứng tên kê khai đất theo Chỉ thị 299 và đứng tên tại Sổ mục kê năm 1984-1986. Ngày 16-11-1990, ông Đồng đứng tên mua của thôn Đản Mỗ 139m2 đất liền kề với diện tích đất 231m2 nêu trên và vợ chồng anh sử dụng cả phần đất mới mua, nên tổng diện tích đất vợ chồng anh sử dụng là 370m2 (đo đạc thực tế là 383,11m2). Năm 1991 cha, mẹ anh xây lại nhà cấp 4 và vợ chồn anh có công sức đóng góp như đóng 6000 viên gạch, trông nom thợ. Như vậy, toàn bô nhà và đất nêu trên là của cha, mẹ anh, không phải của vợ chồn anh; nay ly hôn, anh và chị Hanh tự lo chỗ ở.

Bị đơn là chị Trần Thị Hanh trình bày: chị đồng ý ly hôn. Đối với diện tích đất 370m2 mà chị và anh Kiểm đang sử dụng thì ông Đồng, bà Nguyên đã cho anh chị 231m2 sau khi kết hôn; năm 1990, vợ chồng chị mua thêm của thôn Đản Mỗ 139m2 đất vườn liền kề với thửa đất trên để tăng gia, nhưng vì vợ chồng chị không có tiền, nên ông Đồng đứng ra mua đất và thanh toán tiền cho vợ chồng chị. Vợ chồng chị sử dụng đất ổn định, xây tường bao để tạo thành khuôn viên riêng, kê khai đất, hoàn thành nghĩa vụ thuế với Nhà nước; do đó, chị yêu cầu được chia 120m2 đất sát ngõ đi vì chị không còn nơi ở nào khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Kim Nguyên (mẹ anh Kiểm) trình bày: vợ chồng bà chưa cho hẳn anh Kiểm, chị Hanh nhà đất đang tranh chấp; ông Đồng chết năm 1996; nhà đất đó vẫn là của vợ chồng bà, yêu cầu anh Kiểm, chị Hanh trả lại nhà đất cho gia đình bà.

Tại Bản án sơ thẩm số 263/LHST ngày 10-12-2003, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

  1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Huy Kiểm và chị Trần Thị Hanh.
  2. Về con chung: Không có.
  3. Về tài sản chung: Hai bên không đề nghị vì vậy không xét.
  4. Về nhà ở:
  5. Xác định vợ chồng có hai diện tích nhà ở và công trình phụ trên toàn bộ diện tích đất 370m2 (thửa đất số 17, tờ bản đồ số 66 tại thôn Đản Mỗ, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội). Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hanh không yêu cầu chia nhà ở.
  6. Về đất ở: Chia cho chị Hanh được sử dụng một phần đất trên diện tích 139m2 thuộc thửa đất 370m2 mang số 17 tờ bản đồ 66 nêu trên. Cụ thể ranh giới như sau:

+ Dành ngõ đi chung cho hai bên có chiều rộng 2m, chiều dài 10m6 tiếp giáp ngõ đi ra đường làng diện tích là 21,2m2.

+ Chị Hanh được chia phần đất giáp ngõ đi chung có chiều dọc theo ngõ đi chung 10m6; chiều giáp nhà trẻ dài 12m35; chiều giáp phần đất anh Kiểm được chia (có tường hoa làm ranh giới) dài 12,35m; chiều còn lại là tường. Tổng diện tích đất là 118,8m2.

+ Anh Kiểm được chia sử dụng phần đất còn lại của thửa đất trên.

Hai bên tự ngăn ranh giới đất mình được chia sử dụng và có quyền mở cổng ra ngõ đi chung trên phần đất mình được chia.

  1. Hai bên không phải thanh toán tiền chênh lệch chia tài sản cho nhau.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 18-12-2003, anh Nguyễn Huy Kiểm, bà Nguyễn Thị Nguyên kháng cáo không đồng ý chia một phần đất cho chị Hanh.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 89/PTDS ngày 06-7-2004, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định:

  • Hủy bản án ly hôn số 263/LHST ngày 10-12-2003 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần chia đất ở giữa chị Hanh với anh Kiểm. Giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để điều tra xét xử lại vụ án theo thủ tục chung.
  • Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.
  • Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Tại bản án sơ thẩm số 242/LHST ngày 23-11-2004, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

  • Xử: Xác định thửa đất số 17 tờ bản đồ 66 diện tích 370m2 đất tại thôn Đản Mỗ, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội thuộc tài sản của ông Nguyễn Huy Đồng và bà Nguyễn Thị Nguyên
  • Trích công sức cho chị Trần Thị Hanh có giá trị là 50.000.000 đồng.
  • Buộc bà Nguyên phải thanh toán công sức cho chị Hanh số tiền là 50.000.000 đồng.
  • Ghi nhận sự thỏa thuận của anh Kiểm và chị Hanh về đất nông nghiệp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 25-11-2004, chị Trần Thị Hanh kháng cáo cho rằng diện tích đất đang tranh chấp là tài sản chung của chị và anh Kiểm; chị không có chỗ ở nào khác; yêu cầu được chia một phần đất để sinh sống.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 83/2005/PTDS ngày 21-4-2005, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định:

Xác định diện tích 383,11m2 đất ở tại thửa số 17 tờ bản đồ số 66 ở thôn Đản Mỗ, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của anh Nguyễn Huy Kiểm và chị Trần Thị Hanh.

  • Dành một diện tích 31,8m2 trên thửa đất nêu trên có ký hiêu I trong sơ đồ kèm theo làm ngõ đi chung cho anh Kiểm, chị Hanh. Diện tích này là hình chữ nhật gồm các đoạn thẳng như sau: đoạn thẳng AD=10,6m giáp với phần đất chia cho chị Hanh; đoạn thẳng GA=3m; đoạn thẳng EG=10,6m giáp với đất của bà Oanh; đoạn GA=3m giáp đất ông Phi và đất của anh Kiểm được chia có ký hiệu III trong sơ đồ.
  • Chia cho chị Hanh được sử dụng 120,31m2 đất trong thửa đất nêu trên có ranh giới như sau: diện tích đất chia cho chị hanh có ký hiệu II trong sơ đồ hình chữ nhật gồm các đoạn thẳng AB=11,35m giáp phần đất anh Kiểm và bà Mười; đoạn thẳng BC=10,6m giáp phần đất ông Xuân; đoạn CD=11,35m giáp nhà trẻ của Thôn Đản Mỗ; đoạn DA=10,6m giáp ngõ đi chung của anh Kiểm,, chị Hanh. Chị Hanh được quyền mở cổng ra lối di chung của hai bên có ký hiệu I trong sơ đồ
  • Chia cho anh Kiểm diện tích đất còn lại 231,66m2 có ký hiệu III trong sơ đồ. Diện tích này có hình chữ nhật chiều dài 19,8m, chiều rộng 11,7m. Anh Kiểm được mở cổng ra lối đi chung có ký hiệu I trong sơ đồ.
  • Hai bên không phải thanh toán tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất cho nhau.

Kèm theo bản án này là sơ đồ chia đất giữa anh Kiểm, chị Hanh.

  • Ghi nhận sự thỏa thuận của anh Kiểm, chị Hanh về đất nông nghiệp không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Nguyên và các con là các anh, chị Nguyễn Huy Minh, Nguyễn Huy Kiểm, Nguyễn Huy Vân, Nguyễn Huy Hạnh, Nguyễn Thị Chiến có đơn khiếu nại với nội dung không đồng ý chia đất cho chị Hanh vì đất là tài sản của gia đình chứ không phải là tài sản chung của anh Kiểm, chị Hanh.

Tại Quyết định số 84/2008/DS-KN ngày 18-4-2008, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 83/2005/PTDS ngày 21-4-2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án sơ thẩm số 242/LHST ngày 23-11-2004 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại, với nhận định:

“…Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định nguồn gốc căn nhà cấp 4 diện tích đất 370m2 đang tranh chấp (bao gồm 231m2 đất phía trong và 139m2 đất phía ngoài) là do ông Đồng, bà Nguyên tạo lập; vợ chồng anh Kiểm, chị Hanh chỉ có công sức đóng góp trong việc xây dựng nhà như đóng gạch, trông thợ; anh Kiểm, chị Hanh ở tại nhà đất từ năm 1990, có xây tường bao quanh khuôn viên đất và anh Kiểm đứng tên sử dụng đất là ông Đồng, bà Nguyên đã cho vợ chồng anh Kiểm, chị Hanh nhà đất nêu trên. Tòa án cấp sơ thẩm tuy xác định nhà đất đang tranh chấp là tài sản của ông Đồng, bà Nguyên đã cho anh Kiểm, chị Hanh diện tích đất tranh chấp, đồng thời chia cho chị Hanh được sử dụng 120,31m2 đất là chưa có cơ sở chắc chắn. Vì vậy, cần phải hủy bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm để xét xử sơ thẩm lại theo hướng xác định nhà đất đang tranh chấp là tài sản của ông Đồng, bà Nguyên, nhưng có xem xét đến việc đảm bảo quyền lợi về đất ở cho chị Hanh”.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhâ dân tối cao; hủy bản án dân sự phúc thẩm số 83/2005/PTDS ngày 21-4-2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và hủy bản án sơ thẩm số 242.LHST ngày 23-11-2004 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

XÉT THẤY:

  1. Về căn nhà cấp 4 trên diện tích 231m2 đất:

Sau khi kết hôn, năm 1990 vợ chồng anh Nguyễn Huy Kiểm, chị Trần Thị Hanh được ông Nguyễn Huy Đồng, bà Nguyễn Thị Nguyên (cha, mẹ của anh Kiểm) bố trí cho ra ở riêng tại ba gian cấp 4 trên diện tích 231m2 đất thổ cư của ông Đồng, bà Nguyên tại thôn Đản Mỗ, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội. Năm 1991 ông Đồng, bà Nguyên xây lại nhà cấp 4 nêu trên; vợ chồng anh Kiểm, chị Hanh đã quản lý, sử dụng nhà, đất từ năm 1990; anh Kiểm đã đứng tên đất trong bản đồ địa chính, sổ dã ngoại. Về pháp lý thì không có tài liệu nào xác định ông Đồng, bà Nguyên đã tặng cho anh Kiểm, chị Hanh nhà, đất, nên nhà, đát này vẫn là tài sản của ông Đồng, bà Nguyên, trong đó anh Kiểm, chị Hanh có một phần công sức đóng góp.

  1. Về diện tích đất 139m2 nhận chuyển nhượng của Thôn Đản Mỗ:

Ngày 16-11-1990, thôn Đản Mỗ đã chuyển nhượng ch anh Kiểm 139m2  đất (liền kề với diện tích đất 231m2 của ông Đồng, bà Nguyên) để anh Kiểm sản xuât, mở rộng khuôn viên; do anh Kiểm, chị Hanh không có tiền nên ông Đồng  đã đứng ra trả tiền cho thôn Đản Mỗ; anh Kiểm, chị Hanh đã nhận phần đất này để sử dụng. Anh Kiểm đã đứng tên đất tại bản đồ địa chính năm 1995 và sổ dã ngoại (diện tích 370m2, số thửa 17 tờ bản đồ số 66). Tại công văn số 1422/CV-ĐCNĐ và ĐT ngày 29-10-2004, Phòng Địa chính Nhà đất và Đô thị huyện Đông Anh đã cho biết là: thửa đất số 17 tờ bản đồ số 66 nêu trên, nếu không có trannh chấp, được chính quyền địa phương xác nhận thì được xép cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, có cơ sở xác định 139m2 đất là tài sản chung của anh Kiểm, chị Hanh; nhưng ông Đồng đã trả tiền mua đất, nên cũng cần phải xem xét để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của ông Đồng, bà Nguyên.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định căn nhà và toàn bộ diện tích đất 370m2 đang tranh chấp (đo đạc thực tế là 383,11m2) là tài sản của ông Đồng, bà Nguyên; Tòa án cấp phúc thẩm lại xác định ông Đồng, bà Nguyên đã cho anh Kiểm, chị Hanh toàn bộ diện tích đất 370m2 đang tranh chấp đều là không có căn cứ. Do đó, cần giải quyết lại vụ án để xác định căn nhà cấp 4 trên 231m2 đất là tài sản của ông Đồng, bà Nguyên, trong đó có công sức đóng góp của anh Kiểm, chị Hanh; còn phần đất 139m2 phía ngoài là tài sản chung của anh Kiểm, chị Hanh, trong đó có công sức của ông Đồng; chia cho chị Hanh khoảng ½ diện tích đất ở phía ngoài (do nhận chuyển nhượng thêm) để chị hanh có đất làm nhà ở khi ly hôn.

  1. Về tố tụng:

Ông Nguyễn Huy Đồng chết năm 1996, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm khi giải quyết vụ án này đã không đưa đầy đủ những người thừa kế của ông Đồng tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 83/2005/PTDS ngày 21-4-2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và hủy bản án sơ thẩm số 242/LHST ngày 23-11-2004 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về vụ án chia quyền sử dụng đất khi ly hôn giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Huy Kiểm với bị đơn là chị Trần Thị Hanh; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Nguyên.
  2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Lý do bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm bị hủy:

Vụ án cần được giải quyết lại theo hướng bảo đảm đất ở cho người phụ nữ khi ly hôn; đồng thời phải đưa đầy đủ những người thừa kế tham gia tố tụng.

 

Trả lời

// Gắn nofollow
0968.605.706